Thursday, February 21, 2013

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/canada-law-socie-call-release-lqq-gm-02212013141213.html
lequocquan-305
Luật Sư Lê Quốc Quân trong một lần biểu tình chống Trung Quốc
Photo courtesy of basam
Luật sư bất đồng chính kiến Lê Quốc Quân bị bắt gần ba tháng nay với cáo buộc ban đầu liên quan đến tội danh trốn thuế. Tuy nhiên, những người quan tâm đều cho rằng cáo giác đó không có cơ sở.

Kêu gọi từ Canada

Văn bản của Hiệp hội Luật Vùng Thượng Canada đưa ra hồi đầu tháng hai này nêu rõ quan ngại sâu sắc trước việc cơ quan chức năng Việt Nam bắt giam luật sư nhân quyền Lê Quốc Quân.
Hiệp hội này trích dẫn những nguồn đáng tin cậy về việc luật sư Lê Quốc Quân bị bắt hồi ngày 27 tháng 12 năm ngoái. Lý do bắt giữ được an ninh Việt Nam thông báo là luật sư Lê Quốc Quân bị cáo buộc vi phạm Điều 161 Bộ Luật Hình về tội danh trốn thuế.
Theo Hiệp hội Luật Nhân quyền Vùng thượng Canada thì bản thân luật sư Lê Quốc Quân là một blogger chuyên nêu ra những tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.
Hiệp hội này cho rằng việc bắt giữ ông Lê Quốc Quân là sự bắt giữ tùy tiện. Trước đó ông này bị thường xuyên theo dõi và sách nhiễu. Tất cả chỉ vì ông này có những hoạt động đòi hỏi nhân quyền tại Việt Nam.
Bản thân luật sư Lê Quốc Quân hồi năm 2007 bị tước quyền hành nghề luật sư sau khi ông tham gia khóa tập huấn tại Viện Dân chủ ở thủ đô Washington D.C., Hoa Kỳ trở về.
Trước tất cả những sự việc đó, Hiệp Hội Luật Vùng Thượng Canada bày tỏ quan ngại sâu sắc đối với tình trạng tại Việt Nam nơi bản thân các luật sư hoạt động để nhân quyền được tôn trọng và bảo vệ trở thành đích nhắm do họ thực thi quyền tự do và quyền hạn theo luật pháp quốc tế.
Hiệp hội Luật Vùng Thượng Canada nhắc lại Điều 16 trong Qui định Những nguyên tắc Cơ bản của Liên hiệp quốc về vai trò của luật sư. Theo đó các chính quyền phải bảo đảm cho giới luật sư có thể thực hành mọi chức năng nghề nghiệp của họ mà không bị đe dọa, cản trở, sách nhiễu hoặc bị can thiệp không phù hợp. Chính quyền phải bảo đảm cho các luật sư có thể tự do đi lại và tư vấn cho thân chủ. Chính quyền phải bảo đảm cho các luật sư không chịu hoặc bị đe dọa bởi truy tố hoặc các biện pháp trừng phạt về kinh tế, hành chính hay biện pháp khác vì hoạt động theo bổn phận, chuẩn mực và đạo đức nghề nghiệp’.
Dựa trên những căn cứ nêu ra, Hiệp hội Luật Vùng Thượng Canada kêu gọi chính quyền Hà Nội trả dự do ngay lập tức cho luật sư Lê Quốc Quân vẹn toàn thể xác cũng như tinh thần. Bên cạnh đó chính quyền Việt Nam phải chấm dứt mọi hành động sách nhiễu bản thân luật sư Lê Quốc Quân cũng như những nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền tại Việt Nam.
Hiệp Hội Luật Vùng Thượng Canada cũng kêu gọi chính quyền Việt Nam bảo đảm cho tất cả các luật sư có thể thực hành những hoạt động hợp pháp và ôn hòa của họ mà không gặp phải e sợ nào về bạo lực thân thể hoặc những vi phạm nhân quyền khác. Và trong mọi tình huống bảo đảm tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản phù hợp với chuẩn mực nhân quyền và cơ chế quốc tế.
Hồi đầu tháng giêng năm nay, sau khi luật sư Lê Quốc Quân bị bắt Đài Quan sát Bảo vệ Các nhà hoạt động Nhân quyền, tổ chức kết hợp giữa Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH) và Tổ chức Thế giới Chống Tra tấn ( OMCT) đã lên tiếng kêu gọi phải có hành động khẩn cấp can thiệp cho trường hợp của vị luật sư nhân quyền này.

Cách ly gia đình

lqq-250
Luật Sư Lê Quốc Quân tại văn phòng của mình. Photo: blog lequocquan
Bản thân gia đình luật sư Lê Quốc Quân sau gần ba tháng ông này bị bắt giam cũng như người em của ông là Lê Đình Quản bị bắt trước đó từ ngày 30 tháng 10 năm ngoái vẫn không có tin tức gì về người thân.
Mẹ của Luật sư Lê Quốc Quân, bà Nguyễn thị Trâm cho biết về điều đó như sau:
Quân bị bắt hồi ngày 27, còn Quản bị bắt trước Quân nữa nhưng có người nói là ‘trường hợp đặc biệt’ nên họ không cho lui tới. Người ta nói từ từ sẽ cho luật sư vào nhưng họ có cho vào đâu. Từ lúc cô Oanh, Quản họ nói khi nào làm việc họ sẽ cho luật sư đi theo nhưng nói thế thôi.
Ngoài hai anh em luật sư Lê Quốc Quân và Lê Đình Quản, một người em họ của họ là cô Nguyễn thị Oanh, một cổ đông trong công ty của anh Lê Đình Quản cũng bị bắt dù đang mang thai để điều tra tuy nhiên vhồi đầu tháng hai vừa qua được cho về nhà ở địa phương.
Bà Nguyễn Thị Trâm cho biết về trường hợp của người cháu trong gia đình này như sau:
Bác là cô ruột của cháu. Khi hỏi cháu, cháu nói họ điều tra linh tinh nhiều chuyện, cứ bắt cháu đi lập cung suốt ngày.Nay thì đưa về địa phương và không cho rời nơi cư trú. Chồng phải bảo lãnh để về dưỡng thai vì thai yếu lắm.
Xin phép được nhắc lại, luật sư Lê Quốc Quân là giám đốc Công ty Giải Pháp Việt Nam. Hoạt động chính của công ty là nghiên cứu và cung cấp thông tin thị trường. Công ty được thành lập hồi năm 2001.
Lê Đình Quản là giám đốc Công ty Vietnam Credit chuyên về báo cáo tín nhiệm- xếp hạng doanh nghiệp Việt Nam. Ông Lê Đình Quản cũng bị bắt giam về cáo buộc trốn thuế.
Luật sư Lê Quốc Quân là người từng có những bài viết cổ xúy cho dân chủ, nhân quyền. Ông từng công khai tham gia những phiên tòa xét xử tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ tại Hà Nội rồi bị bắt cùng với bác sĩ Phạm Hồng Sơn. Ông cũng là một biểu tình viên chống Trung Quốc gây hấn với Việt Nam. Trong thời gian trước khi bị bắt, ông cũng có bài viết liên quan vấn đề sửa đổi hiến pháp tại Việt Nam.

Theo dòng thời sự:

Saturday, February 16, 2013

NGUYỄN TRUNG LĨNH



Viết về dân chủ bị đưa vào trại Giám Định Tâm Thần

2013-02-16
Kỹ sư Nguyễn Trung Lĩnh là một trong những người được nêu tên trong phúc trình Bloggers Và Cư Dân Mạng Bị Cầm Tù của Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam (VCHR) và Liên Đoàn Quốc Tế Nhân Quyền (FIDH) thực hiện hôm 13 tháng Hai ở Paris.
Photo courtesy of xuongduong.blogspot
Kỹ sư Nguyễn Trung Lĩnh

Vi phạm Điều 88

Vì những bài viết về dân chủ và đa nguyên phổ biến trên mạng, kỹ sư Nguyễn Trung Lĩnh, bị bắt năm 2011 và bị chuyển về Trại Giám Định Tâm Thần Trung Ương trước khi được thả hôm 17 tháng Mười Hai năm 2012, chia sẻ cảm nghĩ của ông về điều gọi là xu hướng phát triển đương nhiên của con người, và của truyền thông Việt Nam trước trào lưu dân chủ tự do trên thế giới.
KS Nguyễn Trung Lĩnh: Trước kia tôi học ở Cộng Hòa Czech, sau đó sang Cộng Hòa Liên bang Đức gần sáu năm, về Việt Nam từ năm 1997.
Tôi hay quan tâm và lên tiếng rất nhiều về các vấn đề chính trị xã hội, rất mong muốn xã hội Việt Nam ngày càng có dân chủ, tự do, đa đảng phái chính trị và được bầu cử tự do minh bạch. Năm 1998 tôi bị công an bắt tạm giam tại trại B14 ở Thanh Trì, Hà Nội, vì tôi đã viết một bài 15 điểm phê phán Bộ Chính Trị và hệ thống chính trị ở Việt Nam, gởi cho các Ủy Ban Nhân Dân ở 63 tỉnh thành Việt Nam.
Năm 2011 họ bắt tôi lần thứ hai, từ ngày 22 tháng Mười Hai năm 2011 đến ngày 17 tháng Mười Hai năm 2012 vừa rồi. Những vấn đề tôi nêu lên mười mấy năm nay thông qua những bài viết là những vấn đề ở các nước phương Tây văn minh và phát triển người ta đã làm cách đây một hai trăm năm rồi, những vấn đề mà xã hội Việt Nam đang tồn đọng. Tôi nghĩ mình nêu ra tất cả là cái tốt thôi, cho mọi người dân và cho đất nước, không xuyên tạc, mà giả sử có giải quyết được thì có lợi cho người dân và cho đất nước thôi. Thế mà họ lại bắt tôi.
Tôi nghĩ mình nêu ra tất cả là cái tốt thôi, cho mọi người dân và cho đất nước, không xuyên tạc, mà giả sử có giải quyết được thì có lợi cho người dân và cho đất nước thôi. Thế mà họ lại bắt tôi.
KS Nguyễn Trung Lĩnh
Thanh Trúc: Lý do họ nêu ra để bắt ông và họ gán cho ông tội gì?
KS Nguyễn Trung Lĩnh: Họ bảo tôi vi phạm Điều 88 Bộ Luật Hình Sự, tuyên truyền chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Họ bắt và giam trong  trại tạm giam số Một của Hà Nội tức là nhà tù Hỏa Lò ở dưới Cầu Diễn độ năm tháng. Họ phỏng vấn rất là nhiều, sau đó họ gởi tôi xuống Viện Giám Định Pháp Y Tâm Thần Trung Ương, họ giam giữ và giám định tôi ở đấy ba tháng. Sau ba tháng họ lại chuyển về Hỏa Lò mười bảy ngày, rồi lại chuyển xuống Viện Giám Định Pháp Y Tâm Thần Trung Ương thêm bốn tháng nữa.
Thanh Trúc: Ông được trả tự do tháng Mười Hai năm 2012, ông có tiên liệu mình được trả tự do vào lúc đó không vì thông thường, tội gọi là vi phạm điều 88 Bộ Luật Hình Sự thì mức án tù là 3 tới 5 năm hoặc nhiều hơn?
KS Nguyễn Trung Lĩnh: Tôi biết thừa cái chuyện ở Việt Nam họ thích cho nặng tội thì nặng tội và cho nhẹ tội thì nhẹ mà. Tôi nghĩ chắc tôi chỉ bị giam vài ba tháng là về thôi, không ngờ họ giam đến một năm. Cái việc giám định tại Viện Giám Định Pháp Y Tâm Thần Trung Ương là tôi cũng không ngờ được. Ngay trong trại giam Hỏa Lò thì những bác sĩ kiểm tra tôi bốn lần và kết luận trí nhớ của tôi cực kỳ tốt. Tôi hiểu mình bị bắt giam và bị cách ly, không có điện thoại không liên lạc được gì với ai cả thì mình nằm trong tay họ thôi, họ thích đưa đi đâu thì đưa, thích chuyển đi đâu thì chuyển và thích thả lúc nào thì thả thôi.
Qua điều tra thì người ta hỏi về hoạt động dân chủ 2005, rồi việc thành lập nhóm Việt Nam Yêu Nước 2006-2007, rồi những bài viết liên quan đến đối lập. Tôi nói suy cho cùng thì tôi vẫn chưa vi phạm pháp luật Việt Nam, bởi vì bài trên mạng chứ chưa có triển khai gì trên thực tế thì sao có thể bảo là tôi vi phạm Điều Luật 88? Từ ngày còn ở Đông Âu đến khi về nước tôi thấy có lý thì tôi làm thôi.

Hù dọa, bôi nhọ

bloggers-250.jpg
Trang bìa của bản Phúc Trình "Bloggers and netizens behind bars" . RFA photo.
Thanh Trúc: Đang từ một con người tỉnh táo mà lại bị đưa vào Viện Giám Định Tâm Thần Trung Ương vì cho rằng có vấn đề tâm thần tức là người điên, lúc đó cảm giác của ông như thế nào?
KS Nguyễn Trung Lĩnh: Cảm giác rất đau khổ rất đau đớn, vì tôi nghĩ cái danh dự của tôi quan trọng hơn chuyện ngồi tù. Ngay ở trại tam giam Hỏa Lò các ông quản giáo bảo là "giam anh chẳng qua là thử thách". Thế rồi vào Viện Giám Định Pháp Y Tâm Thần Trung Ương thì các bác sĩ ở đó họ bảo "chẳng qua họ đàn áp anh thôi", còn các y tá họ bảo là "anh bệnh gì đâu mà chữa" . Tôi thì chỉ lo ngại cái danh dự của tôi thôi, họ làm thế để bôi nhọ và dìm tôi xuống.
Qua rất nhiều người thì tôi được biết là xưa nay những người trái chính kiến, hay phê phán đảng cộng sản, phê phán cái hệ thống chính trị trong xã hội Việt Nam thì họ gán cho nào là tâm thần, nào là thần kinh các thứ. Đấy là công cụ để họ hù dọa, trấn áp, tiêu diệt những cá nhân nào có những tư tưởng mong muốn chế độ đa đảng ở Việt Nam. Đụng chạm đến cái vị trí độc tôn của đảng cộng sản thì họ gán cho những cái như thế.
Ngay ở trại tam giam Hỏa Lò các ông quản giáo bảo là "giam anh chẳng qua là thử thách". Thế rồi vào Viện Giám Định Pháp Y Tâm Thần Trung Ương thì các bác sĩ ở đó họ bảo "chẳng qua họ đàn áp anh thôi", còn các y tá họ bảo là "anh bệnh gì đâu mà chữa" .
KS Nguyễn Trung Lĩnh
Nhưng mà hiện nay tình hình những người bất đồng chính kiến, những người mong muốn đa nguyên đa đảng ở Việt Nam thì rất là nhiều. Thí dụ hiện đang có phong trào và thời gian để đóng góp ý kiến về việc sửa đổi Hiến Pháp, và vừa rồi là các trí thức nòng cốt ở Việt Nam, một lực lượng rất lớn, đề nghị thay đổi Hiến Pháp và sửa Điều IV Hiến Pháp. Đó là chuyện đa đảng cạnh tranh lành mạnh, và xã hội Việt Nam ngày càng mở ra là hướng đi rất đúng.
Cũng như vừa rồi, trong bài chúc mừng năm mới của ông Trương Tấn Sang thì ông không nhắc gì đến chuyện đảng phái cả, chỉ nói đến vấn đề dân và nước thôi. Đấy là những tiến bộ rất tốt cho xã hội Việt Nam.
Thế còn truyền hình ở Việt Nam thì người ta cũng nói đến bầu cử tự do, tỉ như bầu cử tổng thống ở Mỹ cũng được trình bày rất kỹ. Rồi những báo VietnamNet hay VNExpress cũng trình bày về những chiến dịch bầu cử tự do ở Mỹ, và các nước trên thế giới sẽ càng ngày càng ảnh hưởng và làm cho dân Việt Nam quen dần với chuyện bầu cử tự do cũng như đa đảng. Đấy là mong muốn của rất nhiều người đấu tranh và mong muốn của nhân dân Việt Nam.
Thanh Trúc: Vừa rồi bản phúc trình về các bloggers và công dân mạng bị giam cầm ở Việt Nam, do Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam và Liên Đoàn Quốc Tế Nhân Quyền thực hiện, trong đó có nêu tên kỹ sư Nguyễn Trung Lĩnh. Ông nghĩ thế nào về chuyện này?
KS Nguyễn Trung Lĩnh: Cộng đồng người Việt ở hải ngoại và các tổ chức quốc tế góp sức tranh đấu cho nhân quyền của người Việt Nam ở trong nước là một điều rất tốt, rất cần thiết.
Thanh Trúc: Xin cảm ơn kỹ sư Nguyễn Trung Lĩnh.

Theo dòng thời sự:

Thursday, February 7, 2013

TRẦN TƯ


TRẦN TƯ – NGƯỜI TÙ THẦM LẶNG, BẤT KHUẤT

1Trong khi chúng ta đang chuẩn bị đón xuân sang thì trong nhà tù Việt Cộng có một người tù thầm lặng, hiệnđang mang bản án chung thân, phải chuẩn bị đón cái Tết thứ 20 trong ngục tù.
Ông là Trần Tư, nay đã 72 tuổi, một người tù chính trị thuộc Liên Đảng Cách Mạng Việt Nam, bị bắt năm 1993 với tội danh “âm mưu lật đổ chính quyền” và nhận bản án chung thân.
Trường hợp của ông Trần tưlà một trường hợp khá đặc biệt. Cũng giống như ông Lý Tống, ông Trần Tư đã vượt biên, định cư tại Mỹ nhưng sau đó lại về Việt Nam hoạt động và bị cầm tù. Tuy nhiên có sự khác biệt và kém may mắn ở chỗ là ông Trần Tư chỉ có thẻ thường trú chứ chưa là công dân Hoa Kỳ, cho nên không nhận được sự giúp đỡ của lãnh sự Hoa Kỳ.
Vài nét về ông Trần Tư
Ông Trần Tư người gốc Quảng Bình, nhưng sinh trưởng tại Tân Mỹ, Thừa Thiên-Huế.
Học trường sinh ngữ quân đội và năm 1966 ra trường với cấp bậc Hạ sĩ quan Thông dịch viên. Từ năm 1966 -1973, ông lần lượt đóng quân tại các căn cứ Chu Lai, Cam Ranh, Đà Nẵng với chức vụ Hạ sĩ quan Thông dịch viên cho Lực lượng Đặc biệt Mỹ. Từ 1973 đến tháng 4/1975, ông làm việc tại Hải quân Công xưởng với chức vụ trưởng kho 7.
Vượt biên và tỵ nạn ở Hoa Kỳ
Sau tháng 4/1975, ông bị bắtđi tù cải tạo 2 năm tại Minh Hải. Ngay sau khi ra tù, ông đã tìm đường vượt biển nhưng bất thành và bị bắt ở tù từ năm 1977 đến 1982.
Vài năm sau đó, ông tiếp tục vượt biển lần nữa và thành công, đến tỵ nạn tại Thái Lan vào giữa năm 1987. Trong thời gian tạm cư trên đất Thái, ông làm việc trong tư cách là thông dịch viên, và chuyên giúp tư vấn, giúp đỡ các trẻ em minor, các cô gái Việt bị nạn trên biển. Khi được chuyển tiếp sang tạm cư tạiPhi, ông dạy học cho người tỵ nạnở trung tâm PRPC Bataan Philippine. Sau 18 tháng tạm cư trên đất Thái, ông đi định cư tại Hoa Kỳ vào cuối năm 1988.
Đây có lẽ cũng là quãng thời gian ông manh nha ý tưởng hoạt động chính trị để cứu quốc. Sau khi định tại Hoa Kỳ, trong một bức thư gởi về cho gia đình từ Fullerton, California đề ngày 15/12/1988, ông viết:
“Giờ đây Ba không còn được nụ cười tươi như thời gian đó nữa đâu. Có cười đi chăng nữa chỉ để vui lòng kẻkhác, vì trong nụ cười còn đượm vẻ chua chát, lo âu, sầu muộn. Chúa đã trao cho Ba một cây Thánh giá rất khó vác, nhưng Ba tin rằng Ba sẽ vác nổi, vơi phương tiện Ngài đã ban cho Ba.
Xin Chúa chúc lành cho tất cả những kẻ thân yêu của Ba”.
Một thời gian ngắn sau khiổn định cuộc sống mới, ông mở Văn phòng du lịch ASIA Travel tại Ontario, California.
Trở về Việt Nam hoạt động và bị bắt
Trong thời gian sinh sống tại Hoa Kỳ, ông cùng các đồng chí lập ra tổ chức Liên Đảng Cách Mạng Việt Nam.
Năm 1990, ông quay về Việt Nam hoạt động đồng thời làm việc từ thiện với các tổ chức từ thiện công giáo. Hoạt động từ thiện nổi bật nhất là việc giúp đỡ bệnh nhân tại trại phong Thanh Bình (An Khánh, Quận 2), mà người phụ trách trại phong Thanh Bình khi đó là Linh mục Cosma Hoàng Văn Đạt, đồng thời cũng là chánh xứ Giáo xứ Thiên Thần (Nay Ngài là Giám mục Giáo phận Bắc Ninh).
Ông Trần Tư  đang cùng Lm. Cosma Hoàng Văn Đạt (người đeo kiếng) phát chẩn cho bệnh nhân tại  trại phong Thanh Bình
Tai họa ập đến và bản án chung thân
Sáng ngày 28/03/1993, tai họa ập đến với ông và cả gia đình tại tư gia ở số 534 An Bình, An Phú, Thủ Đức (nay là số 23 Đường 10, Khu phố 4, Phường An Phú, Quận 2).
Từ sáng sớm, một lực lượng công an khoảng hơn 100 người mặc thường phục, rải đều 2-3 người tại mỗi chốt chặn, kéo dài từ nhà thờ Thiên Thần (600 An Bình, An Phú, Quận 2) vào đến tư gia của gia đình ông. Khoảng trên 20 công an mặc thường phục lẫn sắc phục kéo vào nhà ông, bắt tất cả mọi người trong nhà ngồi úp mặt vào tường, trong khi lực lượng công an tra xét ông và vợ. Sau khi lục xét và lấy đi nhiều vật dụng đồ đạc trong nhà, kể cả một lượng tiền bạc lớn, công an áp tải ông về trại giam.
Liên tục trong vòng một tháng, tất cả thành viên trong gia đình ông không được ra khỏi nhà: nội bất xuất, ngoại bất nhập. Bên trong nhà lúc nào cũng túc trực 3 công an viên. Mọi nhu cầu tiêu dùng đều phải ghi xuống giấy để công an đưa người đi mua.
Ngày ra tòa, ông dõng dạc tuyên bố với chánh án “Tôi làm việc này vì lý tưởng. Tôi không có tội. Hãy thả hết những anh em của tôi ra. Tôi hoàn toàn nhận trách nhiệm”.
Quãng thời gian bị cầm tù
Trong thời gian bị giam giữ,ông lần lượt bị chuyển từ trại tù Nguyễn Văn Cừ (Sài Gòn), đến trại Trại A-20 Xuân Phước, Phú Khánh (nay là tỉnh Phú Yên). Sau khi gia đình thăm nuôi tại trại Xuân Phước, được 3 tháng thì ông bị chuyển ra Bắc đến trại Ba Sao Nam Hà.
Ông Trần Tư cùng các Học Viên Lớp Tiếng Anh do ông phụ trách tại trại Sikiew
Ông là một thành viên trong nhóm 5 người tù cùng bị chuyển một lượt từ trại Xuân Phước ra Ba Sao năm 1994: Lý Tống, Trần Tư, Đoàn Viết Hoạt, Jimmy Trần (Trần Mạnh Quỳnh) và A Quý.
Trại giam Ba Sao Nam Hà nối tiếng là trại giam khắc nghiệt. Tại trại giam này ông cùng với 3 người tù nổi tiếng Lý Tống, Đoàn Viết Hoạt và Trần Mạnh Quỳnh viết kháng thư về chế độ giam giữ tù nhân (xem nội dung bản kháng thư đính kèm bên dưới), mà đoạn kết có lời như sau:
“Từ trại giam Nam Hà chúng tôi đã quyết định gửi đến Quí Vị thư kháng nghị này vì cho rằng, sau khi đã trực tiếp biết được những gì đang xẩy ra trong các trại giam mà chúng tôi đã đi qua, chúng tôi không thể tự nhận mình là những con người tự trọng, trung thực, thiết tha với tiền đồ của dân tộc mà không nói lên những nhận xét, quan điểm và kiến nghị của mình. Chúng tôi thẳng thắn gửi đến Quí Vị thư kháng nghị này vì tin rằng công lý sẽ thắng, nền dân chủ pháp trị sẽ được xây dựng trên đất nước chúng ta; rằng tinh thần nhân đạo, lòng nhân ái trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt sẽvượt hẳn mọi bất công, lạc hậu và hận thù để tạo ra một không khí chính trị xã hội Đại Phản Tỉnh và Đại Hòa Dân Tộc để mở đường cho việc xây dựng một nước Việt phồn vinh, hạnh phúc và tự do trong thời đại 2000”.
Giấy Thông báo chấp hành án tại trại giam Ba Sao, Nam Hà
Theo lời mô tả của ông Lý Tống và các bạn đồng tù khác, trong tù ông Trần Tư là người điềm đạm, rất “an nhiên tự tại” và có bản lãnh, suốt ngày ngồi tập Yoga, tập thể dụcđể giữ gìn sức khỏe. Tuy nhiên, do điều kiện trại giam và chế độ ăn uống thiếu thốn, đã khiến ông rụng hết hàm răng. Người nhà phải bỏ tiền ra, xin phép trại giam cho ông làm răng giả để tiện việc ăn uống.
Ngoài những tù chính trị đã mất gần đây như các ông Nguyễn Văn Trại, Trương Văn Sương, và người tù chính trị xuyên thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu hiện còn trong lao lý, thì có lẽ hiện nay ông Trần Tư là người tù chính trị lâu năm duy nhất còn sống sót đang thọ án trong nhà tù cộng sản.
Vì chưa phải là công dân Hoa Kỳ, nên suốt thời gian ông ở tù, không có một sự can thiệp nào từ Lãnh sựHoa Kỳ, kể cả sự lên tiếng của các tổ chức, đảng phái có liên hệ. Vì luôn hoạtđộng âm thầm nên ông không được công chúng và báo chí biết đến.
Vào cái tuổi 72, với bản án chung thân cho tội danh “Âm mưu lật đổ chính quyền”, ông đã khắc khoải gần 20 năm tù, lê lết qua nhiều trại tù khắc nghiệt. Nay với hàm răng đã rụng hết, sức khỏe không còn khả quan vì chế độ ăn uống thiếu thốn, khiến ông có thể gục ngã bất cứ lúc nào.
Vì sự quên lãng của mọi người mà ông phải âm thầm chịu đựng sự giam cầm khắc nghiệt sau song sắt trong suốt 20 năm qua. Cũng như các ông Nguyễn Văn Trại, Trương Văn Sương, mặc dầu ông Trần Tư tuy có đầy nghị lực nhưng liệu có đủ sức khỏe để theo hết kiếp tùđày với bản án chung thân không?
20 năm là một quãng thời gian quá dài và quá lâu cho một sự quên lãng. Chúng ta hãy cùng nhau lên tiếng trước khi quá muộn màng vì sự hối tiếc không thể cứu được người con yêu nước Trần Tư.
Xuân Quý Tỵ  2013
Lê Minh
THƯ KHÁNG NGHỊ VỀ CHẾ ĐỘ GIAM GIỮ PHẠM NHÂN HIỆN NAY
Trại Nam Hà, ngày 1.4.1994
Kính gửi: Thủ Tướng Chính Phủ
         Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Đồng Kính Gửi:
          — Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao
          — Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ
(Nhờ Ban Giám Thị Trại Ba Sao, Nam Hà, chuyển giao)
Thưa Quí Vị,
Chúng tôi ký tên dười đây là Đoàn Viết Hoạt, Trần Tư, Lý Tống và Trần Mạnh Quỳnh hiện đang bị giam giữ tại trại giam Ba Sao, Nam Hà. Sau khi đã trải qua nhiều trại giam khác nhau từ Nam ra Bắc (Chí Hòa, Thủ Đức Z30D, Xuân Phước, Nam Hà) chúng tôi nhận thấy chế độgiam giữ phạm nhân hiện nay có nhiều điều không phù hợp các công ước quốc tế vềquyền con người, các công pháp và tập tục luật pháp quốc tế, và ngay cả luật pháp Việt Nam hiện nay. Chúng tôi xin gửi đến Quí Vị kháng thư này liên quan đến những vi phạm mà chúng tôi đã thực tế trải qua hoặc trực tiếp biết được.
A. Về Chế Độ Giam Giữ và Sinh Hoạt
1. Phạm nhân thuộc mọi thành phần xã hội (tu sĩ tôn giáo, trí thức, công chức nhà nước, các thành phần“xã hội đen”…) và mọi tội phạm khác nhau (hình sự, kinh tế, chính trị…) đều bịgiam chung và chịu những hình thức sinh hoạt ăn ở, lao động như nhau. Điều này xẩy ra ở hầu hết các trại giam. Chế độ giam giữ này đã dẫn đến nhiều hậu quảtiêu cực cho quá trính cải tạo của các phạm nhân; nhân phẩm, đạo đức và phong cách sống văn minh, có văn hóa không những không được phát huy mà còn bị thoái hóa. Thiểu số những người có nhân cách và phẩm chất sống tốt đẹp bị “hình sựhóa” bởi sự áp đảo và trấn lột của đa số quen lối sống của “xã hội đen”.
2. Vì nhà tù có quá đông phạm nhân nên chỗ ăn ở quá chật chội (50cm, 60cm mỗi người), tiêu chuẩn vệ sinh rất thấp, trật tự an tòan trong trại khó bảo đảm (trộm cắp, đánh lộn, ức hiếp, trấn lột…)
3. Hầu như toàn bộ thời gian giam giữ được dành cho lao động. Các sinh hoạt vui chơi giải trí, thể dục thể thao, học tập gần như không có, hoặc nếu có cũng không đáng kể. Ở hầu hết các trại giam nhiều hình thức vui chơi giải trí và học tập còn bị nghiêm cấm (cấm ca hát, cấm học tập ngoại ngữ và kể cả văn hóa…)
4. Sức khoẻ phạm nhân không được bảo đảm. Lao động nhiều và năng nhọc nhưng ăn mặc, ở, nghỉ ngơi dưới mức trung bình. Khi đau ốm, thuốc men thiếu thốn. Bệnh xá thường chật hẹp thiếu vệ sinh, người bệnh nhẹ bị nhốt chung với người bị bệnh truyền nhiễm…
5. Quan hệ con người trong trại giam thiếu tình thương và thiếu tính giáo dục. Ngôn ngữ sử dụng giữa cán bộvà phạm nhân thường thiếu văn hóa (mày – con, mày – tao, chửi mắng…). Còn nhiều trường hợp cán bộ đánh đập phạm nhân, có khi bằng cả roi vọt, và bắt phạm nhân phục vụ riêng cho mình.
B. Việc Tổ Chức Lao Động Cải Tạo
1. Việc bắt buộc mọi phạm nhân không phân biệt tội trạng và án phạt đều phải lao động tay chân, thường là nặng nhọc, 8 giờ một ngày, có khi cả chủ nhật, được giải thích là để thi hành pháp lệnh thi hành án mới ban hành. Chúng tôi cho rằng cần phải xét lại ngay cảcơ sở pháp lý của việc bắt buộc mọi phạm nhân phải lao động tay chân nặng nhọc trong thời gian bị giam giữ vì những lý do sau đây:
a. Hiến pháp 1992, điều 71 qui định: “Không một công dân nào bị coi là có tội khi chưa bị Tòa án xét xử với một bản án có hiệu lực pháp lý”. Điều này cho thấy chỉ có bản án do tòa án phán quyết mới có giá trị pháp lý để thi hành. Mọi việc thêm vào án phạt của tòa án dưới bất cứ hình thức nào và do bất cứ cá nhân hoặc cơ quan nào trong thời giam thi hành án là hoàn toàn vi phạm tinh thần và nội dung của điều 71 Hiến Pháp hiện nay.
b. Pháp lệnh thi hành án là một văn bản pháp lý dưới luật, tất nhiên cũng không thể đi ngược lại tinh thần và nội dung của điều 71 cũng như các điều khoản khác của Hiến Pháp, đạo luật căn bản của mọi đạo luật. Nói cách khác, việc qui định các hình thức thi hành án không thể vượt ra ngoài phán quyết của Tòa án liên quan tới thời gian và hình thức án phạt. Cụ thể hơn nữa, việc tổ chức lao động, nhất là lao động tay chân nặng nhọc cho phạm nhân chỉ có thể áp dụng một cách hợp hiến và hợp pháp đồi với những bản án mà toà án có quy định phạt lao động với những hình thức cụ thể(lao động nhẹ, lao động khổ sai…).
c. Toà án hiện nay của nước ta chỉ có án phạt tù giam mà chưa qui định có hay không có lao động, cũng nhưlao động nhẹ hay lao động khổ sai. Mọi qui định về lao động dười bất cứ hình thức nào do đó đều không phù hợp với án lệnh và phán quyết của tòa án hiện nay, và nếu vẫn đem thi hành thì vừa vi phạm điều 71 của Hiến Pháp hiện nay, vừa vi phạm tập quán và công pháp quốc tế, và đặc biệt vi phạm các công ước quốc tế về dân quyền và nhân quyền liên quan tới tòa án, quá trình xét xử và giam giữ.
2. Hình thức tổ chức lao động và cường độ lao động hiện nay ở các trại giam mà chúng tôi đã đi qua hoàn toàn thiên nặng về hình phạt và về hiệu quả kinh tế. Các trại giam thường tính toán thành quả lao động của phạm nhân như tính toán lời lỗ của một cơ sở kinh doanh sản xuất ngoài xã hội. Có trại (Nam Hà) đặt hẳn trách nhiệm của phạm nhân là“làm giầu cho trại”. Thực tế này đã gây ra những hậu quả tai hại như sau:
a. Phạm nhân luôn luôn có ấn tượng là họ bị “bóc lột sức lao động”. Thêm vào đó, tình trạng ăn ở, sinh hoạt tồi tệ trong trại giam như mô tả ở trên càng tác động xấu vào quá trình cải tạo của phạm nhân. Chúng tôi cho rằng hình thức tổ chức lao động cũng như ăn ở nhưhiện nay ở các trại giam hoàn toàn không đạt được hiệu quả “cải tạo” như mong muốn.
b. Việc bắt phạm nhân laođộng cực nhọc để sinh lời cho trại giam và đóng góp vào ngân sách quản lý trại giam của chính phủ tạo ra một hình ảnh không tốt đẹp về nhân quyền và chế độlao tù của nước ta.
c. Lao động trong thời gian giam giữ chỉ có thể cải tạo khi đem lại lợi ích cho phạm nhân. Muốn thế,lao động cần gắn liền với huấn nghệ, học tập nâng cao kiến thức và văn hóa tổng quát, cũng như với một môi trường sống nhân đạo, thân ái, văn minh và tiến bộ.Điều này đòi hỏi phải tổ chức lại chế độ lao động học tập đồng thời với việc cải thiện mạnh mẽ và sâu rộng mọi mặt sinh hoạt của trại giam.
C. Kiến Nghị:
Từ những nhận định trên, chúng tôi kiến nghị với quí vị những điều cụ thể sau đây:
1. Thành lập một Ủy Ban Quốc Gia thanh sát các trại giam.  Ủy Ban này phải hoàn toàn độc lập với các cơ quan liên hệ tới việc tổ chức và điều hành các trại giam, đặt trực thuộc Quốc hội hay Thủ Tướng để thanh tra tất cả các trại giam, đồng thời nghiên cứu và đề nghị các biện pháp cải thiện chế độ lao tù.
2. Rà soát lại các văn bản pháp lý liên quan tới mọi khía cạïnh của việc tổ chức và quản lý các trại giam cũng như việc thi hành án phạt của tòa án. Sửa đổi mọi điều vi phạm tinh thần và nội dung Hiếp Pháp hiện hành.
3. Trong khi chờ đợi, cải thiện ngay một số điều liên quan tới lao động và sinh hoạt trong các trại giamđể giảm bớt một số mặt tiêu cực và tăng cường tác dụng cải tạo của quá trình giam giữ. Chúng tôi đề nghị cụ thể:
- bỏ mọi hình thức lao động nặng nhọc, giảm bớt giờ lao động;
- tổ chức các lớp học tập văn hóa, ngoại ngữ, nghề nghiệp;
- tổ chức các hình thức sinh hoạt giải trí, văn nghệ, thể dục thể thao;
- tận dụng khả năng và nhân lực của chính phạm nhân để tổ chức các loại sinh hoạt này.
4. Riêng phần chúng tôi, kểtừ ngày gửi thư kháng nghị này, chúng tôi sẽ ngưng mọi hình thức lao động chân tay vì lý do như sau:
a. Trong tinh thần và nội dung của bản kháng nghị này, việc ngưng tham gia mọi hình thức lao động chân tay vừa thể hiện tính trung thực của những nhận xét, quan điểm và kiến nghị mà chúng tôi đã trình bầy ở trên, vừa là một đóng góp cụ thể vào quá trình cải thiện chế độ lao tù ở nước ta hiện nay.
b. Vấn đề “cải tạo”, đặc biệt cải tạo qua hình thức lao động chân tay, hoàn toàn không phù hợp với trường hợp chúng tôi là những người đang bị giam giữ với lý do chính trị. Vấn đề đúng sai của tư tưởng và quan điểm chính trị không thể giải quyết đơn thuần bằng quá trình gọi là “lao động cải tạo”.
c. Chúng tôi cho rằng các hình thức lao động tay chân hoàn toàn không phù hợp vơi tình trạng sức khỏe thểxác cũng như năng lực tinh thần và trình độ văn hóa của chúng tôi. Chúng tôi tn rằng trong thời gian còn tạm thời bị “cách ly khỏi xã hội” chúng tôi vẫn có thể đóng góp hoặc chuẩn bị cho sự đóng góp trong tương lai một cách tích cực hơn, hữu hiệu hơn vào quá trình đi lên của đất nước bằng năng lực và hiểu biết của mình hơn là bằng các hình thức lao động bằng chân tay giản đơn và nặng nhọc.
Thưa Quí Vị,
Từ trại giam Nam Hà chúng tôi đã quyết định gửi đến Quí Vị thư kháng nghị này vì cho rằng, sau khi đã trực tiếp biết được những gì đang xẩy ra trong các trại giam mà chúng tôi đã đi qua, chúng tôi không thể tự nhận mình là những con người tự trọng, trung thực, thiết tha với tiền đồ của dân tộc mà không nói lên những nhận xét, quan điểm và kiến nghị của mình. Chúng tôi thẳng thắn gửi đến Quí Vị thư kháng nghị này vì tin rằng công lý sẽ thắng, nền dân chủ pháp trị sẽ được xây dựng trên đất nước chúng ta; rằng tinh thần nhân đạo, lòng nhân ái trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt sẽvượt hẳn mọi bất công, lạc hậu và hận thù để tạo ra một không khí chính trị xã hội Đại Phản Tỉnh và Đại Hòa Dân Tộc để mở đường cho việc xây dựng một nước Việt phồn vinh, hạnh phúc và tự do trong thời đại 2000.
Trân trọng kính chào Quí vị.
Đồng ký tên
Đoàn Viết Hoạt – Trần Tư
Lý Tống – Jimmy Trần (Trần Mạnh Quỳnh)

Saturday, February 2, 2013


Các bị cáo bị tuyên phạt hơn 13 năm tù
(BG)-Ngày 16-7, TAND tỉnh mở phiên tòa xét xử ba bị cáo: Nguyễn Kim Nhàn (SN 1949), quê quán ở Lĩnh Sơn, Anh Sơn (Nghệ An), đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 4, khu 34, xã Song Mai (TP Bắc Giang); Đinh Văn Nhượng (SN 1958), ở thôn Đồng Tâm, xã Tân Hiệp (Yên Thế) và Đỗ Văn Hoa (SN 1966), ở thôn Yên Ninh, thị trấn Nếnh (Việt Yên). Các bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân (KSND) tỉnh truy tố về hành vi "tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam" theo điểm a, c, khoản 1, Điều 88 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo: Hoa, Nhượng, Nhàn (từ trái qua) tại phiên toà.
Theo cáo trạng của Viện KSND tỉnh, do có những bất mãn cá nhân, ba đối tượng trên đã đi khiếu kiện kéo dài vượt cấp trong nhiều năm ở Bắc Giang. Quá trình ra Trung ương khiếu kiện, các bị cáo quen biết, liên hệ với nhiều đối tượng trong nước và một số báo, đài nước ngoài có quan điểm chống Nhà nước ta. Các bị cáo đã soạn thảo, phát tán tài liệu, trả lời phỏng vấn, thu thập, tàng trữ các tài liệu có nội dung vu cáo, xuyên tạc, phỉ báng Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền nhân dân, cung cấp thông tin sai sự thật. Từ tháng 4 đến tháng 9-2008, Nhàn thường xuyên nhận các tài liệu của một số đối tượng không quen biết ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng (Hà Nội) mang tuyên truyền, phát tán cho nhiều người. Tháng 10-2009, với hành vi treo khẩu hiệu, rải truyền đơn "tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam" tại TP Hải Phòng, Nguyễn Kim Nhàn đã bị TAND TP Hải Phòng đưa ra xét xử, tuyên phạt hai năm tù giam và hai năm quản chế tại địa phương sau khi mãn hạn tù. Ra tù tháng 1-2011, Nhàn vẫn "chứng nào tật ấy". Không chỉ cố tình vi phạm quyết định quản chế tại địa phương bằng việc chuyển về sống như vợ chồng với bà Ngô Thị L (SN 1962), ở thôn Tân Sơn, xã Tân Dĩnh (Lạng Giang), Nhàn tiếp tục liên hệ với các đối tượng phản động, tiếp nhận các tài liệu có nội dung chống Nhà nước đem về phát tán cho nhiều người, trong đó có Đỗ Văn Hoa. Cũng trong thời gian này, Nhàn còn tư vấn cho Hoa thành lập nhóm đi khiếu kiện và tổ chức các hoạt động chống chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Khám xét nơi ở của Nguyễn Kim Nhàn, cơ quan điều tra đã thu giữ 49 tài liệu, giấy tờ, trong đó nhiều tài liệu có nội dung nói xấu, bôi đen chế độ, đi ngược chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tại cơ quan điều tra, Nhàn thừa nhận 35/49 giấy tờ đó là do Nhàn tàng trữ.
Trong vụ án này, Đinh Văn Nhượng bị truy tố bởi hành vi soạn thảo, phát tán, tàng trữ, lưu hành các tài liệu có nội dung chống phá Nhà nước. Nhượng khai, từ năm 2007 đến nay, y đã viết 28 đơn kiện cho 54 người ở trong và ngoài tỉnh. Trong đơn Nhượng soạn thảo có nhiều tình tiết, nội dung vu cáo, xuyên tạc, bóp méo sự thật. Ngoài ra, Nhượng còn soạn thảo nhiều nội dung vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phỉ báng Đảng Cộng sản Việt Nam, mang tài liệu mà một số đối tượng phản động khác cung cấp tán phát. Riêng Đỗ Văn Hoa, ngoài việc nhận tài liệu từ Nhàn về đọc, nghiên cứu, tháng 5-2011, Hoa đã thuê người đánh máy vi tính và photocopy 21 khẩu hiệu có nội dung tuyên truyền, kích động những người đi khiếu kiện, gây áp lực với chính quyền. Không chỉ thực hiện các hành vi vi phạm kể trên, ba bị cáo còn tham gia trả lời phỏng vấn các đài của bọn phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài, trong đó có nhiều nội dung xuyên tạc, vu cáo nước ta vi phạm nhân quyền.
Tại phiên toà, các bị cáo liên tục phản cung, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Nguyễn Kim Nhàn còn nguỵ biện cho rằng việc tư vấn cho Hoa thành lập nhóm khiếu kiện là yêu nước và trả lời phỏng vấn của đài nước ngoài là góp ý, bảo vệ chế độ…(?!). Đinh Văn Nhượng và Đỗ Văn Hoa cũng phủ nhận toàn bộ cáo trạng, cho rằng tài liệu Nhàn đưa chỉ là những tài liệu khiếu kiện đòi quyền lợi, phê phán, phản ánh hiện thực, không có mục đích chống chính quyền, nhân dân… Luật sư bào chữa cho bị cáo Nhàn cũng đưa ra một số tình tiết, cho rằng Nhàn không phạm tội chống Nhà nước mà chỉ phạm tội "làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam"…
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ, lời khai của các bị cáo tại toà, lời khai của nhân chứng, vật chứng thu được tại nơi ở của các bị cáo và các kết luận giám định của cơ quan chức năng và kết luận thẩm định nội dung các tài liệu thu giữ tại nhà các bị cáo, khẳng định lời bào chữa của các bị cáo tại toà chỉ là nguỵ biện, truy tố của Viện KSND tỉnh đối với các bị cáo là hoàn toàn có cơ sở. Hành vi của các bị cáo đã phủ nhận thành quả mà nhân dân, dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nỗ lực đạt được trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chế độ XHCN. Hành vi của các bị cáo còn xâm phạm, uy hiếp sự tồn tại vững mạnh của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, gây tâm lý hoang mang, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền… Vì vậy, TAND tỉnh tuyên phạt Nguyễn Kim Nhàn 5 năm 6 tháng tù giam và phạt quản chế 4 năm tại địa phương sau khi mãn hạn tù. Đinh Văn Nhượng, Đỗ Văn Hoa cùng bị phạt 4 năm tù giam và phạt quản chế tại địa phương 3 năm, kể từ ngày chấp hành xong án phạt tù.
Đối với một số đối tượng có liên quan, cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi vi phạm để xử lý trong một vụ án khác.
Thùy Ninh

PHAN VĂN THU


Diễn biến phiên xử vụ “Công Án Bia Sơn”

2013-02-02
Phiên tòa kéo dài từ ngày 28 tháng giêng đến hôm qua 1 tháng hai, xử 22 người trong vụ án Hội đồng Công Luật Bia Án Bia Sơn tại Phú Yên kết thúc mọi phần thủ tục và tranh tụng trước tòa, rồi phía Viện Kiểm sát đề nghị mức án đối với các bị cáo.

Photo courtesy of Dân Làm Báo
Các bị cáo trong phiên xử vụ án Hội đồng Công Luật Bia Án Bia Sơn tại Phú Yên.
Một người tham dự phiên xử từ đầu đến ngày hôm qua, không muốn nêu danh, tường thuật lại những diễn biến mà người này theo dõi được trong 5 ngày xử án. Trước hết người này cho biết những mức án mà phía Viện Kiểm sát đề nghị.
Người dự tòa: Ông Phan Văn Thu tù chung thân, còn những bác lớn tuổi theo ông trước đây theo khung chênh lệch từ 13 đến 20 năm, như ông Vương Tấn Sơn, Lê Huy Lộc từ 19 đến 20 năm; và thấp xuống từ 16-17 năm, 13-14 năm cho những thanh niên trẻ.
Gia Minh: Các luật sư bào chữa có đưa ra những lập luận gì để bào chữa cho những người đó không?
Người dự tòa: Trong quá trình xét xử, sự bào chữa của luật sư rất ít, chỉ có hỏi một hai câu. Theo tôi thấy mang tính chất bào chữa ít lắm, không tích cực trong bào chữa. Sau khi Viện Kiểm sát đưa ra mức án, các luật sư đưa ra một số tình tiết để giảm nhẹ thôi. Không có bào chữa, mà chấp nhận tội danh đó là âm mưu lật đổ; nhưng do tính chất tôn giáo, và một số mê muội, chưa nhận thức rõ để làm tình tiết giảm nhẹ. Còn tội danh vẫn là ‘âm mưu lật đổ chính quyền’ theo điều 79 Bộ Luật Hình sự.
Gia Minh: Bản thân những người bị buộc tội, trước tòa họ có được phát biểu gì không?
Ông Phan Văn Thu, tức Trần Công, một thành viên xây dựng khu du lịch sinh thái Núi Đá Bia tại ngoại ô thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, bị công an bắt hôm 5/2/2012. File photo.
Ông Phan Văn Thu, tức Trần Công, một thành viên xây dựng khu du lịch sinh thái Núi Đá Bia tại ngoại ô thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, bị công an bắt hôm 5/2/2012. File photo.
Người dự tòa: Vẫn đảm bảo được quyền và nghĩa vụ trước tòa là họ được tự bào chữa cho họ sau phần Viện Kiểm sát đưa ra, và họ được nói lời sau cùng. Trong tinh thần một tôn giáo, họ rất hiền lành, không có kháng cự gì hết.
Nói chung, trong kinh họ thuyết đầu tiên chỉ là một tôn giáo đơn thuần. Sau đó xuất hiện Bộ Sấm Nguyễn Bỉnh Khiêm nên họ vô tình bình luận, bàn luận Bộ Sấm đó. Có những vấn đề đụng đến chính trị, nhưng trên tinh thần dựa theo Sách Nguyễn Bỉnh Khiêm. Họ khẳng định việc họ bị như hôm nay là do Bộ Sấm Nguyễn Bỉnh Khiêm mà ra. Nếu nói họ làm chính trị thì đó là chính trị thiên mệnh chứ không phải chính trị nhân mệnh. Họ là những người diễn giải, diễn bày Bộ Sấm Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tất cả những từ ngữ mà phía chính quyền gọi họ ‘phản động’ chính là những từ ngữ trong Bộ Sấm Nguyễn Bỉnh Khiêm mà ra.
Gia Minh: Chứ họ không phản bác lại tội ghép cho họ là ‘âm mưu lật đổ chính quyền’?
Người dự tòa: Đầu tiên một số người khẳng định tại tòa, họ cương quyết họ không có âm mưu lật đổ chính quyền, vì bản chất hoạt động của họ không có tính chất đó. Tất cả đều thể hiện ra họ là những con người rất trung thực trước tòa. Họ khai báo không có điều gì đụng đến chính trị cả, động cơ từ đầu vào làm thuê làm mướn; sau đó nghe ông Phan Văn Thu thuyết giảng rất hay về đạo lý làm người. Họ cũng là những người chân tu, có gốc tu sẵn nên khi nghe Phật Pháp từ một con người như vậy nên họ thích nghe.
Đầu tiên một số người khẳng định tại tòa, họ cương quyết họ không có âm mưu lật đổ chính quyền, vì bản chất hoạt động của họ không có tính chất đó. Sau đó nghe ông Phan Văn Thu thuyết giảng rất hay về đạo lý làm người.
Người dự tòa
Chủ trương của họ cũng là‘tiền sinh thái, hậu tổ đình’. Xây dựng một khu sinh thái đó cho tất cả mọi người. Ông Phan Văn Thu có nói là không làm gì nguy hại đến cho ai cả. Khu sinh thái đem lại giải trí, vui chơi cho mọi người trong cảnh đẹp đó. Ông cũng thành khẩn trước tòa: nếu tòa thương phần nào thì thương, chứ ông không có việc làm chính trị nào hết.
Nói chung là một phiên tòa rất cảm động, đượm màu tôn giáo. Ai cũng nói về Phật Pháp, từ nhỏ đi tu, xuất gia vào chùa. Tất cả chỉ là Phật Pháp, chỉ có một số từ đụng đến chính trị là những từ mà họ luận trong Bộ Sấm Nguyễn Bỉnh Khiêm; ví dụ như Đại Nam Kinh Châu, Cửu Quốc Trùng Chính.
Phía chính quyền nói Đại Nam Kinh Châu là nước mà những người này muốn thành lập; những người đó thì nói ‘Đại Nam Kinh Châu’ trong Sấm Nguyễn Bỉnh Khiêm nói đến một nước Việt Nam sau này tốt đẹp hơn chứ không có gì lật đổ cả. Bản thân họ không có chuẩn bị cho một địa điểm, căn cứ, không có vũ khí. Họ chỉ vô tình bàn luận mà phải dính vào tội phải ra tòa như vậy.
Gia Minh: Phía luật sư có nói, trong trại có người khai rằng ông Phan Văn Thu có hứa trong năm 2013 này nếu thành công sẽ thưởng trâu vàng, bổng lộc; thì trước tòa họ có nói lại những điều đó thế nào không?
Người dự tòa: Phần này thì ‘con trâu’ là biểu tượng thưởng cho người nào có công.Tình cờ có người mua hay đặt đâu đó một số trâu vàng giá trị mỗi con là 700 ngàn đem về tặng cho ông Phan Văn Thu. Ông này mới lấy ra làm quà tặng cho những người nhiệt tình đóng góp vào công cuộc xây dựng khu sinh thái Đá Bia đó.
Việc thưởng đó là nhằm cổ vũ động viên tinh thần để mọi người làm việc. Theo luật nhân quả thì mình bỏ ra công sức bao nhiêu mình sẽ thu vào bấy nhiêu chứ không có gì mình trồng lên mà không hái quả được. Bây giờ cố gắng làm cho tất cả mọi người thì sau này mình cũng được sung sướng, vì bớt khổ thì được sướng vậy đó.
Gia Minh: Cám ơn.